Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá đối mục đang phát triển mạnh tại các tỉnh ven biển miền Trung, đặc biệt là ở Quảng Bình, Quảng Trị và Huế. Tuy nhiên, nguồn giống cho nghề nuôi này chủ yếu dựa vào việc khai thác từ tự nhiên, nguồn giống không ổn định cả về số lượng lẫn chất lượng. Do đó, việc nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá đối mục là rất cần thiết và cấp bách.
Có thể bạn quan tâm: Sưởi Inox Cho Hồ Cá: Cẩm Nang Toàn Tập Về Sản Phẩm Không Thể Thiếu Mùa Đông
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích sản xuất giống nhân tạo cá đối mục (Mugil cephalus) nhằm cung cấp nguồn giống chất lượng cao, ổn định cho người dân nuôi trồng thủy sản tại khu vực ven biển Quảng Bình. Cụ thể, đề tài hướng đến:
- Sản xuất giống nhân tạo cá đối mục với số lượng lớn.
- Ứng dụng kỹ thuật sinh sản nhân tạo để tăng tỷ lệ thành công.
- Xây dựng quy trình sản xuất giống và quy trình ương nuôi cá giống đối mục.
- Cung cấp giống cho các hộ dân nuôi trồng thủy sản trong và ngoài tỉnh.
Có thể bạn quan tâm: Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Chọn Và Sử Dụng Sưởi Cho Cá La Hán
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Cá đối mục (Mugil cephalus)
- Tảo Skeletonema costatum, Tetraselmis sp., Chaetoceros sp.
- Luân trùng Brachionus plicatilis O.F. Müller
- Copepoda vân đục
- Artemia
Phạm vi nghiên cứu
- Sản xuất giống nhân tạo cá đối mục tại cơ sở sản xuất giống Công ty Cổ phần Thanh Hưng.
- Ương nuôi cá bột, cá cỡ, cá hương.
- Thí nghiệm quy trình ương nuôi cá giống.
Có thể bạn quan tâm: Sưởi Bể Cá Eheim Jager Của Đức: Đẳng Cấp Thiết Bị Nhiệt Độ Cao Cấp Cho Người Chơi Cá Cảnh
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp sinh học để nghiên cứu và sản xuất giống cá đối mục.
Kết quả nghiên cứu
1. Thuần hóa và nuôi vỗ cá bố mẹ
Cá đối mục được thu mua tại vùng biển Quảng Ninh, Quảng Bình và thuần hóa làm cá bố mẹ. Cá được nuôi vỗ trong ao đất với diện tích 500 m², bạt đáy, sâu trung bình 1,5 m. Môi trường nước đạt tiêu chuẩn: độ mặn 15 – 25‰, pH 7,5 – 8,5. Ao nuôi có sục khí đáy, cấp nước qua hệ thống lắng, lọc cát. Cá bố mẹ được cho ăn thức ăn tự nhiên như cá cơm, ruốc… với lượng 1 – 2% trọng lượng thân/ngày, cho ăn 2 lần/ngày vào lúc 7h và 16h30. Trong quá trình nuôi vỗ cá, bổ sung thêm các loại vitamin B, C, E.
2. Gây chín sinh dục và thu hoạch trứng
Thời gian từ khi gây chín sinh dục đến khi cá chín sinh dục rụng trứng của cá cái kéo dài khoảng 3 – 4 ngày. Khi nhiệt độ nước trong ao khoảng 16 – 18°C, cá bố mẹ mới đạt thành thục sinh dục. Khi nhiệt độ nước trong ao tăng lên 19 – 25°C, quá trình chín sinh dục mới hoàn tất, trứng rụng nhiều vào lúc 3 – 4 giờ sáng. Khi cho cá sinh sản nhân tạo, cá cái đạt tỷ lệ chín sinh dục trên 70%. Sau đó, cá được tiêm hormone LHRHa kết hợp với Domperidone hoặc HCG để kích thích sinh sản. Cá cái được tiêm 2 liều, liều thứ nhất bằng 1/3 liều tiêm, liều thứ hai bằng 2/3 liều tiêm còn lại. Cá đực tiêm 1 liều bằng 1/2 liều tiêm của cá cái. Sau thời gian chín sinh dục khoảng 24 giờ, cá cái bắt đầu rụng trứng, sau 24 giờ tiếp theo thì cho cá đẻ.
3. Ấp trứng và nở
Trứng được ấp trong các bể composite 1 m³ và 5 m³. Mật độ ấp thích hợp là 100 – 150 trứng/ml, độ mặn 25‰, nhiệt độ 22 – 25°C, hàm lượng oxy hòa tan phải đạt 5 mg/l trở lên, pH 7,5 – 8,5, nhiệt độ ấp trứng thích hợp là 22 – 25°C. Trứng nở sau 36 – 48 giờ ấp.
4. Ương nuôi cá bột, cá cỡ, cá hương

Có thể bạn quan tâm: Hướng Dẫn Chi Tiết Sản Xuất Giống Cá Sặc Rằn Tại Nhà
Cá bột được ương nuôi trong các bể composite 5 m³. Mật độ ương 40 – 50 cá bột/lít. Sử dụng thức ăn tự nhiên như luân trùng, copepoda, artemia, tảo Skeletonema sp., Chaetoceros sp., Tetraselmis sp. Cá bột sau 3 ngày nuôi vớt sang ao ương. Sau 25 ngày ương, cá được cung cấp cho các hộ dân nuôi trồng thủy sản.
5. Ương nuôi cá giống
Cá giống được ương nuôi trong ao đất có diện tích 1,5 ha, mật độ 2 con/m². Thức ăn sử dụng là cá tạp, cám công nghiệp. Cá cho ăn 2 lần/ngày vào lúc 7h30 và 16h. Thường xuyên theo dõi các yếu tố môi trường nước như pH, độ mặn, nhiệt độ, hàm lượng oxy hòa tan, amoniac, nitrit, nitrat, photphat, sunfua hidro. Định kỳ thay nước, sục khí, bón vôi, dùng men vi sinh xử lý nước và đáy ao.
6. Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá bột
Thí nghiệm được thực hiện trong các thùng xốp 20 lít, mỗi thùng thả 9.000 cá bột. Sử dụng các loại thức ăn tự nhiên như luân trùng, copepoda, artemia, tảo Skeletonema sp., Chaetoceros sp., Tetraselmis sp. Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của cá bột cao nhất ở lô 3 với 25%, tốc độ tăng trưởng đạt 10 mm.
7. Thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá bột
Thí nghiệm được thực hiện trong các thùng xốp 20 lít, mỗi thùng thả 9.000 cá bột. Độ mặn thí nghiệm là 25‰, 30‰, 35‰. Kết quả cho thấy độ mặn 25‰ là thích hợp nhất cho cá bột, tỷ lệ sống đạt 20%, tốc độ tăng trưởng đạt 10 mm.
8. Thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ ương đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá bột
Thí nghiệm được thực hiện trong các thùng xốp 20 lít, mỗi thùng thả cá bột với mật độ khác nhau: 30, 40, 50 con/lít (sau 3 ngày ương), 10, 20, 30 con/lít (sau 20 ngày ương). Kết quả cho thấy mật độ 30 con/lít sau 3 ngày ương và 10 con/lít sau 20 ngày ương là thích hợp nhất, tỷ lệ sống đạt 20%, tốc độ tăng trưởng đạt 10,9 mm và 10,2 mm.
9. Ương nuôi cá giống thương phẩm
Cá giống được ương nuôi trong ao đất có diện tích 1,5 ha, mật độ 2 con/m². Cá giống có trọng lượng trung bình 700 – 1.000 g/con sau 1 năm nuôi. Cá giống được bán với giá 100.000 đồng/kg.
Kết luận
- Đề tài đã sản xuất thành công giống nhân tạo cá đối mục với số lượng lớn, chất lượng cao.
- Quy trình sản xuất giống và ương nuôi cá giống đối mục đã được xây dựng và áp dụng thành công.
- Cá giống đối mục được cung cấp cho các hộ dân nuôi trồng thủy sản trong và ngoài tỉnh, góp phần tăng thu nhập và phát triển kinh tế địa phương.
Kiến nghị
- Cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy trình sản xuất giống và ương nuôi cá đối mục.
- Cần có chính sách hỗ trợ người dân trong việc tiếp cận và ứng dụng công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá đối mục.
- Cần có quy hoạch vùng nuôi phù hợp để phát triển nghề nuôi cá đối mục bền vững.
Cập Nhật Lúc Tháng 12 11, 2025 by Thanh Thảo
